156.000 tỷ đồng đầu tư loạt tuyến cao tốc, tạo thế và lực mới cho vùng Tây Nguyên | BĐS

156.000 tỷ đồng đầu tư loạt tuyến cao tốc, tạo thế và lực mới cho vùng Tây Nguyên | BĐS

Phát biểu tại hội nghị triển khai Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh Vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và xúc tiến đầu tư vùng với chủ đề “Phát triển xanh – Hài hòa – Bền vững” được tổ chức tại Lâm Đồng ngày 20/11, Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải Lê Anh Tuấn, cho biết do đặc điểm về địa hình nên hệ thống giao thông kết nối vùng Tây Nguyên với các vùng lân cận như Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ… không thể phát triển giao thông đường thủy, hạn chế trong việc phát triển đường sắt, đặc biệt là đường sắt vận tải hàng hóa, do đó, chỉ có hàng không và đường bộ là phương thức vận tải phù hợp.

Theo đó, hiện nay, về giao thông đường bộ, Tây Nguyên có hệ thống đường giao thông liên vùng tương đối phát triển với 19 km đường cao tốc và 3.114 km đường quốc lộ nối liền với các tỉnh Duyên hải miền Trung, các cảng biển, Đông Nam Bộ thông các trục dọc: Quốc lộ 14, 14C, đường Trường Sơn Đông; các trục ngang: Quốc lộ 19, 20, 24, 25, 26, 27, 28, 28B, 29 và thông thương với Đông Bắc Campuchia và Nam Lào qua các tuyến Quốc lộ 18B, 78.

Cũng theo lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải, giai đoạn vừa qua, được Đảng, Nhà nước và Chính phủ quan tâm đầu tư khoảng 95.655 tỷ đồng, hệ thống giao thông vùng Tây Nguyên  được cải thiện đáng kể, cơ bản đáp ứng nhu cầu đi lại.

Đơn cử như việc nâng cấp, khai thác tốt các tuyến đường trục và đường ngang xuống các tỉnh ven biển miền Trung, các tuyến đường sang Lào và Campuchia.

Về quy hoạch, hệ thống kết nối nội vùng và kết nối liên vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ đã được hoạch định, tuy nhiên, vẫn chưa đáp ứng nhu cầu. Các trục ngang kết nối có mật độ thấp, quy mô nhỏ, đèo dốc quanh co.

Theo Thứ trưởng Lê Anh Tuấn, mặc dù vùng đã được quan tâm đầu tư cải tạo, nâng cấp nhưng do tốc độ khai thác thấp, từ 40-50 km/h nên mới chỉ đáp ứng nhu cầu vận tải thông thường, chưa có tuyến cao tốc kết nối nhanh với các vùng lân cận và cảng biển, sân bay. Duy nhất chỉ có tuyến cao tốc nội vùng Liên Khương – Prenn khai thác từ năm 2008 với chiều dài 19 km.

Do vậy, vùng chưa có hệ thống giao thông kết nối đóng vai trò tiền đề, động lực để khai thác đặc điểm, tiềm năng, lợi thế vốn có và nâng cao đời sống người dân vốn còn gặp nhiều khó khăn.

Lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải cũng chỉ ra 4 nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những hạn chế, khó khăn trên.

Cụ thể, một là, công tác lập quy hoạch thiếu tính liên kết, chưa đồng bộ giữa các chuyên ngành.

Hai là, kế hoạch đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giữa các địa phương trong vùng còn thiếu đồng bộ, chưa chú trọng đến kết nối vùng, liên vùng.

Ba là, thiếu các cơ chế, chính sách đột phá trong huy động nguồn lực và nguồn lực đầu tư cho kết cấu hạ tầng giao thông còn hạn chế.

Bốn là, việc kêu gọi đầu tư theo phương thức PPP các dự án giao thông vận tải chưa thực sự hiệu quả.

 

Theo Quy hoạch mạng lưới đường bộ đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ Giao thông vận tải dự kiến tổng nhu cầu vốn đầu tư cho các tuyến đường bộ cao tốc kết nối vùng Tây Nguyên dự kiến khoảng 156.000 tỷ đồng. Kế hoạch đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vùng chia là 2 giai đoạn.

Bộ Giao thông vận tải xác định vùng Tây Nguyên còn rất nhiều khó khăn, đời sống nhân dân còn thấp, trong khi đó phải đối mặt với rất nhiều thách thức lớn.

Vì vậy, triển khai các tuyến đường bộ cao tốc theo quy hoạch và kế hoạch đề ra nhằm kết nối vùng Tây Nguyên gắn với các vùng lân cận và cảng biển sân bay, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết số 23-NQ/TW Bộ Chính trị đề ra là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu.

“Thực tế thời gian qua cho thấy, các địa phương có đường bộ cao tốc đi qua đều có mức tăng trưởng kinh tế cao hơn bình quân cả nước, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo nguồn thu, tạo thế và lực mới cho các địa phương”, ông Lê Anh Tuấn đánh giá.

Vì vậy, lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải đề xuất một số giải pháp trọng tâm cần thực hiện trong thời gian tới.

Đặc biệt là huy động, phân bổ nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư có trọng tâm, trọng điểm vào các công trình động lực, có tính lan tỏa, kết nối giữa các phương thức, đặc biệt là các tuyến cao tốc trong quy hoạch; khai thác có hiệu quả nguồn lực từ tài sản kết cấu hạ tầng được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước thông qua hình thức nhượng quyền khai thác.

Theo đó, giai đoạn 2021 – 2025 sẽ bố trí vốn để triển khai 4 dự án đường bộ cao tốc có tính chất liên vùng, gồm: cao tốc Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột, cao tốc Dầu Giây – Liên Khương…, với kinh phí khoảng 28.038 tỷ đồng.

Trong đó, Bộ Giao thông vận tải đã bố trí khoảng 12.303 tỷ đồng nguồn ngân sách trung ương và ngân sách địa phương dự kiến bố trí khoảng 6.515 tỷ đồng; đồng thời, kêu gọi vốn ngoài ngân sách nhà nước khoảng 9.220 tỷ đồng.

Giai đoạn 2026 – 2030, nguồn vốn ngân sách nhà nước bố trí để triển khai các dự án cao tốc đã hoạch định trong quy hoạch có tính liên kết vùng như: cao tốc Bắc Nam phía Tây các đoạn Gia Nghĩa – Chơn Thành, Chơn Thành – Đức Hòa… với tổng nhu cầu vốn đầu tư tối thiểu khoảng 89.165 tỷ đồng…



#tỷ #đồng #đầu #tư #loạt #tuyến #cao #tốc #tạo #thế #và #lực #mới #cho #vùng #Tây #Nguyên

https://vneconomy.vn/156-000-ty-dong-dau-tu-loat-tuyen-cao-toc-tao-the-va-luc-moi-cho-vung-tay-nguyen.htm